Mùa ngô chín

Thứ Sáu, 25/10/2013, 15:14 [GMT+7]

Điện Biên TV - Ai đã một lần đến các xã phía Bắc huyện Tủa Chùa, sẽ không thể nào quên khung cảnh thiên nhiên nơi đây, với những dãy núi trập trùng và những nương đá tai mèo ẩn hiện trong sương. Ở nơi thiên nhiên kỳ vĩ mà khắc nghiệt này vẫn có những mùa nương sinh sôi trên đá, và cây ngô giống như một đặc ân thiên nhiên dành ban tặng cho con người trong cuộc sinh tồn. Vị ngọt bùi của những hạt vàng sinh ra từ lòng đá, đã làm nên những hương vị độc đáo và nét văn hóa riêng biệt trên vùng đất này.

b
Cây ngô trên vùng núi Tủa Chùa.

Cao nguyên Sín Chải rộng khoảng 1.500 m2 và có độ cao trung bình 1.500m so với mực nước biển, bao gồm toàn bộ diện tích huyện Tủa Chùa, chạy dài từ Nậm Mạ - ngã ba sông Đà, tới gần địa phận huyện Tuần Giáo. Phía Bắc cao nguyên này là vùng núi đá vôi hiểm trở, nơi có đồng bào các dân tộc Mông và dân tộc Xạ Phang sinh sống. Kiến tạo địa chất đã tạo cho nơi này cảnh quan kỳ vĩ, nhưng đối với cuộc sống, sản xuất của con người thì đây không hẳn là điều kiện tự nhiên lý tưởng.

Đất canh tác ít ỏi, nguồn nước khan hiếm, nương đồi đều nằm trên lưng đá, nên hết đời này qua đời khác người Mông ở trên núi, người Xạ Phang dưới thung lũng cũng chỉ biết trồng ngô để sinh tồn. Ngày nay, Nhà nước đã hỗ trợ thêm các giống ngô, lúa mới để người dân gieo trồng, nhưng vẫn chỉ có giống ngô truyền thống là thích ứng tốt nhất với vùng cao nguyên khô cằn này. Từ tháng 4 đến tháng 9 hàng năm, đến với các xã phía Bắc huyện Tủa Chùa, chúng ta sẽ được thấy bạt ngàn ngô xanh phủ kín những nương đồi đá xám. Cây ngô đã chắt chiu từng hạt phù sa tích tụ và vị mặn mồ hôi để nuôi sống con người, vì vậy mà con người cũng gắn bó với loài cây này, và không quản khó nhọc vun trồng cho mùa ngô thêm tươi tốt.

Tuy sống dưới thung lũng, nhưng đất đai chật hẹp, ruộng nước ít ỏi, nên ngô vẫn là một trong 2 loại cây lương thực chính của người Xạ Phang ở các xã Lao Xả Phình và Tả Sìn Thàng. Cách đây chưa xa, sức người không đủ giúp người nông dân vùng cao khai hoang nhiều ruộng bậc thang, và người Xạ Phang chưa trồng được nhiều giống lúa mới như bây giờ, cây ngô là một đặc ân thiên nhiên ban tặng cho con người, để chống chọi với cái đói mùa giáp hạt. Và giờ đây khi lúa gạo đã dần thay ngô trong bữa ăn hàng ngày, người Xạ Phang vẫn coi những món ăn từ ngô như món ăn truyền thống không thể thiếu.

Tháng 9, ngô trên đồng và trên nương rẫy đã được nắng gió hong khô, mẹ con bà Tống Trấn Tỷ ra đồng cõng ngô về. Những gùi ngô mới để ở góc nhà khiến bà nhớ tới mèn mén – món ăn truyền thống của người dân vùng đồng đá. Mèn mén là món ăn quen thuộc với cả người Mông và người Xạ Phang ở Tả Sìn Thàng. Và theo bà Tống Trấn Tỷ thì “mèn mén” chính là cách phát âm của người Xạ Phang, tức là cơm ngô.

Nếu người Mông thường ăn cơm ngô với canh bí, rau cải và muối ớt, thì người Xạ Phang lại thường dùng cơm ngô cùng với món tương truyền thống, canh đậu hoa và gừng muối chua. Vị bùi của cơm ngô, vị ngọt của canh đậu hoa và vị chua cay, thơm nồng của món gừng muối hòa quyện với nhau, tạo nên hương vị rất riêng biệt. Lên vùng đá tai mèo và thưởng thức món mèn mén cùng đồng bào Xạ Phang, là một trải nghiệm thú vị với bất cứ vị khách nào đặt chân tới đây. Tuy không phải là những người đến định cư trên vùng đá tai mèo này sớm nhất, nhưng khi tới đây, người Xạ Phang đã đem đến cho nơi này những sắc thái văn hóa khá khác biệt. Điều đáng quý là cho đến nay, bản sắc văn hóa ấy vẫn luôn được cộng đồng người Xạ Phang trân trọng và gìn giữ.

v
Bữa cơm mèn mén của người Xạ Phang.


Người Xạ Phang ở Tả Sìn Thàng không có ai không biết món kẹo kéo ngô - một món quà hấp dẫn cho trẻ nhỏ, vẫn được bán vào ngày chợ phiên. Kẹo ngô truyền thống của người Xạ Phang được chắt từ vị ngọt ngào của ngô và mầm lúa. Cách làm món kẹo này cũng khá cầu kỳ.

Bà Tống Cáng Mẩy ở thôn Tả Sìn Thàng có đến 30 – 40 năm kinh nghiệm làm món kẹo ngô. Mỗi tuần bà đều làm kẹo mang bán tại chợ phiên. Để có được một mẻ kẹo ngon ra chợ, bà phải chế biến mất cả một ngày.

8 giờ sáng bà bắt đầu xay ngô. Tống Mín Chi – con trai bà Mẩy vẫn thường giúp bà trong các công đoạn đầu tiên khi làm kẹo. Sau khi xay ngô, sẽ là giã mầm lúa. Mầm lúa là loại men rất cần thiết để chế biến kẹo. Độ ngọt và dai của kẹo kéo ngô phụ thuộc vào tỷ lệ mầm lúa sử dụng trong quá trình chế biến. Tùy vào lượng ngô, người nấu kẹo có kinh nghiệm sẽ cân nhắc và sử dụng lượng mầm lúa sao cho phù hợp.

Sau khi ngô và mầm lúa được xay, giã, người ta sẽ rắc một lượng nhỏ bột mần lúa cùng ngô vào nước ấm khoảng 30 độ C và nấu trong lửa nhỏ. Người Xạ Phang thường nấu các món ăn bằng chảo to được đặt cố định trên bếp lò.
 
Ngô được nấu khoảng 3 giờ đồng hồ sẽ nở ra, nước trong chảo cũng cạn dần, lúc này phải cho thêm nước và đảo thật đều, đồng thời loại bỏ phần ngô dưới đáy nồi bị cháy. Đây là thời điểm phải rắc bột mầm lúa với một lượng thích hợp, và đảo đều lên một lần nữa, để đánh tan phần cơm ngô bị vón cục. Lửa lại tiếp tục được nhen lên cho đến khi hỗn hợp trong nồi đạt khoảng 50 độ C.

v
Món kẹo kéo ngô của người Xạ Phang được đem ra chợ bán và rất được trẻ con yêu thích.


Khâu tiếp theo là phải lọc bỏ bã ngô và dùng nước cốt đã lọc để cô kẹo. Đây là công đoạn mất nhiều thời gian nhất. Để kẹo không bị cháy, phải cô bằng lửa nhỏ. Mất khoảng 4 – 5 giờ đồng hồ kẹo sẽ dần cô lại và ngả sang màu đỏ sậm như mật ong. Đây là lúc tắt lửa trong bếp lò và kẹo sẽ được đưa ra để làm trắng.

Như vậy là đã đến khâu cuối cùng để có được món kẹo kéo ngô truyền thống mà người Xạ Phang đã lưu truyền từ đời này qua đời khác. Để làm cho kẹo ngô có màu sắc hấp dẫn hơn, người ta sẽ phải quấn kẹo đang còn ấm vào một cây gỗ, sau đó kéo qua, kéo lại nhiều lần cho đến khi kẹo chuyển sang màu vàng nhẹ. Sau một ngày làm việc khá vất vả, món kẹo kéo ngô đã được hoàn thành. Chúng tôi ai cũng mong chờ giây phút này, nhưng người háo hức nhất vẫn là những em bé quen đợi chờ món quà dân dã mỗi khi phiên chợ đến.    

Kẹo kéo ngô truyền thống của người Xạ Phang có vị ngọt dịu và mùi thơm thanh khiết của ngô và mầm lúa. Để làm nên thứ quà ngọt ngào hấp dẫn này, người làm kẹo không chỉ cần có đức tính cần cù, kiên nhẫn, mà còn cần có tình yêu đối với những gì thuộc về truyền thống, bởi ngày nay những thứ quà dân dã như kẹo kéo ngô đang mất dần đi, trước sự lấn át của các loại kẹo màu sản xuất bằng công nghệ.

Yêu quý, trân trọng truyền thống cha ông để lại và yêu tiếng cười trẻ nhỏ, nên phiên chợ nào bà Mẩy cũng làm kẹo kéo ngô trong sự chờ đợi của biết bao em bé vùng cao.

Đã biết bao mùa ngô chín đi qua trên miền đá tai mèo xanh xám. Sức  vươn của cây ngô trên đá rồi đây sẽ trở thành biểu tượng cho sức sống mạnh mẽ của một vùng đất, vùng người. Vùng đá tai mèo: Tả Phìn, Lao Xả Phình, Tả Sìn Thàng và Sín Chải mỗi năm vẫn phải trải qua một mùa khô kiệt, cây cỏ tiêu điều. Thiên nhiên khắc nghiệt là vậy, nhưng vẫn không thể làm nhụt chí con người. Khi đã có tình yêu, có quyết tâm gắn bó với quê hương, xứ sở, thì mồ hôi thấm đá sẽ khiến đá nảy mầm. Tình yêu đó cũng trở thành động lực để người dân vùng đồng đá gìn giữ những gì đã trở thành truyền thống.
    
 

Minh Giang – Trọng Lâm

.